Chuyển đến nội dung chính

Tiền đã tặng, không phải trả lại khi ly hôn

Theo Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình, việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thì yêu cầu tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau
a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập.
Theo thư bạn trình bày thì nhà đất là tài sản chung của vợ chồng bạn nên khi ly hôn, việc chia nhà đất chung vợ chồng sẽ do hai vợ chồng bạn tự thỏa thuận với nhau. Nếu vợ chồng bạn không tự thỏa thuận được thì cùng với đơn yêu cầu ly hôn, vợ chồng bạn có thể yêu cầu tòa án cấp huyện nơi có nhà đất giải quyết chia tài sản chung vợ chồng.
Việc chia tài sản chung được giải quyết theo nguyên tắc: tài sản chung của vợ chồng bạn sẽ được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này.
Về việc trả lại tiền mua nhà cho cha mẹ
Tại khoản 3 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. Theo đó, trong thời kỳ hôn nhân nếu hai vợ chồng bạn có nghĩa vụ chung (nợ, trả góp...) thì khi ly hôn hai bạn vẫn phải tiếp tục thanh toán nghĩa vụ chung theo thỏa thuận, nếu không tự thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết.
Do vậy, nếu khoản tiền do bố mẹ chồng cho vợ chồng bạn vay, mượn để mua nhà đất thì khi ly hôn, vợ chồng bạn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ rồi mới phân chia phần tài sản còn lại.
Tuy nhiên, nếu khoản tiền này do bố mẹ chồng và mẹ đẻ bạn đã tặng cho vợ chồng khi mua nhà đất thì theo quy định tại Điều 465 Bộ luật dân sự: “Hợp đồng tặng cho là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận". Vì thế, vợ chồng bạn không có nghĩa vụ thanh toán lại.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Đăng ký sáng chế tại Châu Âu

Baohothuonghieu.com xin gửi đến Quý Công ty đề xuất dịch vụ với nội dung đăng ký sáng chế tại Châu Âu như sau:       1. Thủ tục đăng ký Theo quy định, một sáng chế có thể được tiến hành đăng ký bảo hộ dưới dạng sáng chế hoặc giải pháp hữu ích khi đáp ứng đủ các tiêu chuẩn sau: a. Tiêu chuẩn bảo hộ:         Có tính mới     Có trình độ sáng tạo     Có khả năng áp dụng công nghiệp     Sáng chế     x     x     x     Giải pháp hữu ích     x           x     b. Hiệu lực của văn bằng bảo hộ: Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 20 (hai mươi) năm kể từ ngày nộp đơn, phải duy trì hiệu lực hàng năm, mỗi lần 01 (một) năm. Bằng độc quyền giải pháp hữu ích có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 (mười) năm kể từ ngày nộp đơn, phải duy trì hiệu lực hàng năm, mỗi lần 01 (một) năm. c. Thời gian đăng ký: Đơn xin đăng ký bảo hộ độc quyền ...

Mánh ăn chia của hacker thẻ tín dụng

Các hacker sử dụng tiền trong tài khoản đã bị hack để mua hàng trên các shop online ở nước ngoài, sau đó câu kết với một trung gian để nhận hàng. Lợi nhuận ăn chia thường là 50-50. 9 hacker trộm thông tin tín dụng chiếm đoạt hàng chục tỷ Theo nhà chức trách, khách hàng khi dùng thẻ tín dụng mua hàng qua mạng sẽ phải điền thông tin thẻ tín dụng cá nhân vào mục thanh toán đơn hàng. Sau đó, thông tin thẻ tín dụng sẽ được lưu vào hệ thống website. Các hacker sẽ tìm lỗ hổng bảo mật ở các shop online có bảo mật yếu và tấn công để chiếm lấy dữ liệu. Trong dữ liệu đó bao gồm thông tin thanh toán của khách hàng và sử dụng nó như tài khoản của mình. Thường những lần thực hiện như này, các hacker chỉ hoạt động trong thời gian rất ngắn để tránh bị chủ tài khoản phát hiện. Các hacker sử dụng tiền trong tài khoản đã bị hack để mua hàng trên các shop online ở nước ngoài, sau đó câu kết với một trung gian để nhận món hàng đó. Người nhận món hàng đó được gọi là drop. Người dùng tài khoản ăn cắp...

Quy định về xóa án tích

Theo khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự nă m  1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009), việc xóa án tích của bạn sẽ được thực hiện theo các quy định về xóa án tích của bộ luật này bởi có lợi hơn cho người bị kết án so với Bộ luật hình sự năm 1985 (thời điểm bạn phạm tội và bị xét xử). Điều 64 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định các trường hợp đương nhiên được xóa án tích: 1. Người được miễn hình phạt. 2. Người bị kết án không phải về các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia hoặc về tội phạm chống phá hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau: a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo; b) Ba năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm; c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến 15 năm; d) Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù trên 15 năm...